Ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng học tập xã hội và cảm xúc (SEL) có ảnh hưởng rất to lớn đối với nhiều vấn đề trong cuộc sống như thành công trong học tập, kết quả giáo dục đại học và thu nhập về sau. Nghiên cứu này cho ta biết rằng SEL có thể được dạy và nuôi dưỡng từ trong nhà trường và nhờ đó mà học sinh có thể tăng cường khả năng phối hợp tư duy, cảm xúc và hành vi theo chiều hướng có lợi trong nhà trường và cuộc sống. Mặc dù cụm từ “học tập xã hội và cảm xúc” đã tồn tại hơn 20 năm, gần đây ta mới thấy được mối quan tâm lớn mạnh về SEL từ phía phụ huynh, các nhà giáo dục, và các nhà làm chính sách. Ví dụ, Ủy ban Phối hợp Học vấn, Xã hội và Cảm xúc (Collaborative for Academic, Social, and Emotional Learning CASEL) đang hỗ trợ 10 trường lớn từ các quận và 45 trường nhỏ hơn qua chương trình Cộng tác giữa các quận khi họ bắt đầu thu nhận nhiều chương trình và phương thức SEL. CASEL gần đây cũng khởi động một chương trình phối hợp giữa các bang để hỗ trợ họ trong quá trình ban hành chính sách, tiêu chuẩn và các quy chế cho SEL trong các trường. Tất cả 50 bang đều có sẵn tiêu chuẩn SEL từ bậc học mẫu giáo, và 4 bang (Illinois, Kansas, West Virginia, and Pennsylvania) có tiêu chuẩn SEL cho từ mẫu giáo đến lớp 12. Mới đây, học viện Aspen cũng ra mắt Ủy ban Toàn quốc về Phát triển Xã hội, Cảm xúc và Học vấn (National Commission on Social, Emotional, and Academic Development) nhằm tìm hiểu cách các trường có thể tích hợp hoàn toàn SEL vào trong chính sách và Chương trình giảng dạy truyền thống vốn chú trọng các vấn đề học thuật. Chúng ta đồng thời biết giáo viên tin rằng những kĩ năng SEL có thể dạy được, mặc dù có thể họ không phải lúc nào cũng biết cách thức tốt nhất để áp dụng vào trong lớp học.

Cái tên mang những gì?

SEL có nhiều tên khác nhau. Những cụm từ phổ biến cho nhóm kĩ năng này bao gồm giáo dục nhân phẩm, nhân cách, kĩ năng thế kỉ 21, kĩ năng mềm, và kĩ năng cảm xúc, và đó chỉ là đơn cử một vài tên gọi. Mỗi cách đặt tên xuất phát từ một quan điểm lý thuyết tương đối khác biệt cũng như dựa trên những tập hợp nghiên cứu khác nhau, trong đó mỗi nghiên cứu thuộc một lĩnh vực và chuyên ngành riêng. Trong số này của Tạp chí Tương lai của trẻ, chúng tôi đặt tên nó là Học tập Xã hội và Cảm xúc bởi hai lý do chính. Thứ nhất, nghiên cứu thị trường gần đây cho thấy rằng cụm từ này là một cụm từ quen thuộc và được ưa chuộng bởi những nhà hoạch định chính sách, giáo viên và phụ huynh. Thứ hai, cụm từ này nhấn mạnh đến việc học tập và phát triển – qua đó mang lại một định hướng tích cực hơn các cụm như kĩ năng cảm xúc hay kĩ năng mềm. Bằng cách nhấn mạnh việc học tập và phát triển, cụm từ SEL còn đồng nhất với nhiệm vụ trọng tâm của các trường học trong hỗ trợ học tập và giáo dục công dân.
Ta đề cập đến điều gì khi nhắc tới SEL? Các nhà nghiên cứu, giáo viên và hoạch định chính sách đều gặp khó khăn trong việc xác định chính xác những nội dung nằm trong và ngoài phạm trù dàn trải này. Những ấn phẩm nổi tiếng đã nhấn mạnh một loạt các kĩ năng, như sự kiên định, sự cảm thông, chí hướng phát triển, kĩ năng xã hội và nhiều hơn nữa. Về căn bản, SEL bao gồm khả năng học hỏi và quản lý cảm xúc ở trẻ em cũng như cách ứng xử có lợi ích cho bản thân cùng người khác, và giúp cho học sinh và người trẻ thành công trong học tập, nơi làm việc, trong các mối quan hệ và trên bình diện xã hội. Việc quản lý cảm xúc và giao tiếp xã hội hiệu quả đòi hỏi một sự phối hợp phức tạp của những kĩ năng tư duy như khả năng tập trung và giải quyết vấn đề; sự tự tin như là tự ý thức về năng lực và tính độc lập; và nhận thức xã hội trong đó bao gồm khả năng cảm thông cho người khác và giải quyết xung đột. Những kĩ năng SEL đã được xác định có số lượng rất lớn và đa dạng về bản chất và chúng bắt nguồn từ những quan điểm lý thuyết khác biệt song có tính tương hỗ. Sự đa dạng có cả hai mặt tốt và xấu.  Một mặt, nó đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu và giảng dạy tìm kiếm những phương pháp tốt nhất để hỗ trợ sự phát triển lành mạnh và tạo ra cuộc sống tích cực. Mặt khác, nó lại phức tạp hóa hiểu biết của ta về phạm trù này.
Mặc cho những thách thức này, hay có thể cũng vì chúng mà sự quan tâm về SEL đã trỗi dậy mạnh mẽ trong vòng vài năm qua. Đó là lý do chúng tôi quyết định xuất bản số đầu tiên của tạp chí Tương lai trẻ em là tập trung vào phát triển các kĩ năng SEL trong nhà trường. Các bài báo được đang tải ở đây cùng bàn tới những thay đổi trong quá trình phát triển và các phương pháp can thiệp từ tiền tiểu học tới trung học, cũng như là các chương trình ngoại khóa bên ngoài trường học liên quan và các vấn đề chính trong chính sách giáo dục như đào tạo giáo viên, kỉ luật, đánh giá trong nhà trường vì mục đích can thiệp và chịu trách nhiệm.

Tại sao số tạp chí này tập trung vào SEL?

Hiện tại ta đang được bao quanh bởi nhiều lý thuyết, nghiên cứu và áp dụng SEL. Đã có nhiều tài liệu viết về SEL, và chúng tôi không có ý định sao chép những công trình đó. Thay vào đó, chúng tôi muốn tập hợp những bài báo xem xét những chứng cứ tồn tại và làm sáng tỏ những nghịch lý mà các nhà nghiên cứu, thực tiễn và hoạch định chính sách đang gặp phải.

Sự quan tâm ngày càng tăng của công chúng vào SEL tồn tại song song với điều có thể được gọi một cách dễ hình dung nhất là sự ngờ vực chính đáng về việc dạy các kĩ xã hội và cảm xúc trong nhà trường.  Mặc dù một lượng lớn nghiên cứu chỉ ra rằng SEL là một bộ phận quan trọng trong thành công học vấn và đời sống sau này, rất nhiều đối tượng quan tâm khác lại có những quan điểm riêng và thường khác biệt nhau về việc liệu làm thế nào để dạy những kĩ năng SEL hay thậm chí có cần dạy chúng trong nhà trường hay không. Phức tạp hơn nữa là việc các bằng chứng hiện tại lại khá mâu thuẫn với nhau: một số nghiên cứu tìm thấy rằng các biện pháp can thiệp được thiết kế để dạy và hỗ trợ kĩ năng SEL tạo ra nhiều ảnh hưởng tốt, một số lại không; một số học sinh dường như hưởng nhiều lợi ích hơn phần còn lại. Số đầu tiên của tạp chí Tương lai trẻ em xem xét tính khoa học của can thiệp và đánh giá SEL, đồng thời giải quyết những vấn đề quan trọng về chính sách giáo dục. 8 bài báo nhằm làm rõ cách tốt nhất để hỗ trợ SEL trong nhà trường và tìm hiểu SEL có tác động đến những khúc mắc quan trọng trong chính sách giáo dục ra sao.

Gọi nó là học tập xã hội và cảm xúc hàm ý rằng những kĩ năng này có thể được học và nuôi dưỡng. Một vài bài báo bàn luận đến những kiến thức ta biết về các phương pháp can thiệp để hỗ trợ kĩ năng SEL, công việc đánh giá kĩ năng SEL và các chính sách để hỗ trợ sự phát triển kĩ năng SEL ở nhiều bậc học, từ tiền tiểu học đến trung học. Những bài báo này xem xét cách các kĩ năng SEL thường được dạy trong trường học và cách can thiệp trong nhà trường có thể phải thay đổi dựa trên những nhu cầu của quá trình phát triển cụ thể (như thiếu nhi, thiếu niên, thanh niên). Vì giáo viên giữa vị trí trung tâm trong các công việc trong nhà trường, chúng tôi kèm theo một bài báo về vai trò của giáo viên trong việc hỗ trợ các kĩ năng SEL ở học sinh và làm thế nào những kĩ năng SEL từ giáo viên ảnh hưởng lên quá trình này. Cuối cùng, chúng tôi cũng cân nhắc đến những bối cảnh sau giờ học trên lớp – cụ thể là những chương trình sau giờ học liên quan tới nội dung trong trường- và vai trò của chúng trong tăng cường kĩ năng SEL.

Chúng tôi đã làm điều này như thế nào?

Nghiên cứu trong nhiều thập kỉ cho thấy rằng chính cái gì đó khác với những kĩ năng học vấn và kiến thức môn học mới ảnh hưởng mạnh mẽ đến thành công trong nhà trường và cuộc sống về sau. Dĩ nhiên, các kĩ năng SEL có thể quan trọng không kém gì những kĩ năng học vấn hay tư duy trong việc tìm hiểu làm thế nào con người đã thành công trong trường phổ thông, đại học và sự nghiệp. Thêm vào đó, các chứng cứ tiền nghiệm cũng cho thấy rằng các kĩ năng SEL có thể giữ vị trí trung tâm trong việc hiểu và khắc phục những cách biệt tồn tại dai dẳng trong học vấn gây ra bởi chênh lệch thu nhập hay khác biệt sắc tộc. Nhưng các nghiên cứu cũng tìm thấy rằng có sự khác biệt to lớn về tính hiệu quả, khả năng áp dụng với đối tượng và hoàn cảnh khác nhau. Nhiều tác nhân có khả năng ảnh hưởng tới khác biệt. Ví dụ, nhiều lĩnh vực khác nhau đã cho ra đời nhiều cơ chế và hệ thống tổ chức để miêu tả và định nghĩa các kĩ năng xã hội và cảm xúc. Khi nhìn xuyên suốt các hệ thống tổ chức này có thể thấy rằng các khung lý thuyết từ các lĩnh vực khác nhau lại nói đến những kĩ năng, năng lực giống nhau dưới những tên gọi khác nhau hay sử dụng cùng một tên cho hai khái niệm biệt lập. Các khung lý thuyết này cũng khác biệt về loại khái niệm mà chúng nhắm tới miêu tả – từ kĩ năng, hành vi và thái độ tới đặc điểm, ưu điểm hay khả năng – điều đó gây khó khăn cho việc phân biệt và so sánh các khác niệm trong những khung lý thuyết này. 2 ví dụ về những cách khác nhau trong định hình SEL giúp làm bật lên những khác biệt và những ý nghĩa cho việc kiểm tra, can thiệp và đánh giá.

Khung bậc đầu tiên, từ CASEL, sắp xếp những kĩ năng SEL quan trọng vào trong 5 nhóm năng lực: Tự ý thức – khả năng phát hiện cảm xúc, suy nghĩ, giá trị và hiểu rằng chúng tác động đến hành vi ra sao; Quản lý bản thân – khả năng điều tiết cảm xúc, suy nghĩ và hành vi trong các tình huống khác nhau một cách thành công, và lên kế hoạch cũng như thực hiện mục tiêu; Nhận thức xã hội – khả năng thấu hiểu và cảm thông với người khác, cũng như hiểu về những lề thói đạo đức, xã hội của những hành vi; kĩ năng quan hệ – khả năng giao tiếp rõ ràng, biết lắng nghe và hợp tác, kiên định trước những áp lực xã hội thái quá, giải quyết mâu thuẫn với tính xây dựng, và tìm, giúp đỡ người khó khăn; Ra quyết định có trách nhiệm – khả năng tìm ra những chọn lựa mang tính xây dựng cho hành vi cá nhân và giao tiếp xã hội dựa trên tiêu chuẩn đạo đức, an toàn và lề thói xã hội,

So sánh với khung lý thuyết này thì trong khung được phát triển bởi Stephanie Jones (một biên tập viên của số báo này), các kĩ năng SEL được xếp vào 3 loại thay vì 5: Điều tiết có ý thức – khả năng tập trung chú ý, lên kế hoạch, giải quyết vấn đề, phối hợp hành vi, lựa chọn giữa nhiều phương án, gạt bỏ một đáp án được ưu chuộng để hỗ trợ phương án thích hợp; Các quá trình cảm xúc – khả năng nhận diện, bày tỏ và điều tiết cảm xúc cá nhân và thấu hiểu cảm xúc của ngươi khác; Kĩ năng xã hội và tương tác – khả năng lý giải chính xác hành vi của người khác, ứng phó hiệu quả với các tình huống xã hội và tương tác tích cực với bạn bè, người lớn. Những khung mẫu khác nhau có thể dẫn tới những câu hỏi nghiên cứu khác nhau, những phương pháp can thiệp khác nhau, và phương thức đo lường, đánh giá khác nhau. Sự đa dạng trong lý thuyết nền tảng đã tạo ra một số thử thách cho việc làm rõ các chứng cứ về SEL. Trong số báo này, chúng tôi không đi theo một khung mẫu đơn cử. Thay vào đó, những bài báo này được dẫn dắt bởi nhiều khung lý thuyết khác nhau có vai trò soi rọi một số vấn đề quan trọng.

Từ nghiên cứu đến thực tiễn

Những bài báo trong số này làm rõ nhiều khung lý thuyết dẫn dắt các phương pháp can thiệp và đánh giá kĩ năng SEL từ bậc mẫu giáo đến trung học phổ thông. Sự đa dạng này nói lên điều gì? Đầu tiên, nó có thể là nguyên nhân của những kết quả đôi khi trái ngược nhau và không mấy thuyết phục. Việc thiếu tính chuẩn xác trong những kĩ năng SEL trọng tâm và cách đo lường chúng làm cho việc biến những kết quả nghiên cứu thành những thực tế hữu dụng ở trường học trở nên khó khăn hơn. Ví dụ, như đã đề cập, những khung lý thuyết từ những lĩnh vực khác nhau có thể nói tới một kĩ năng bằng những tên gọi khác nhau hay dùng một tên gọi cho nhiều kĩ năng khác biệt, hay miêu tả những loại khái niệm tách biệt nhau.
Trong điều kiện lý tưởng, ta có thể thấy rõ sự liên hệ giữa những kết quả nghiên cứu và việc sử dụng chúng. Ví dụ, để giúp trẻ học kĩ năng kiểm soát bản thân – cách để quản lý hành vi của mình mà không cần sự hỗ trợ của giáo viên hay yếu tố ngoại lực nào (như hình dán hay các loại hình khen thưởng khác)- chúng tôi muốn các trường sử dụng các phương thức được hỗ trợ bởi các nghiên cứu. Trong khung CASEL, khả năng kiếm soát bản thân nằm gọn trong phạm trù quản lý bản thân – khả năng điều tiết cảm xúc, suy nghĩ và hành vi một cách thành công trong nhiều tình huống, và đặt ra cũng như thực hiện mục tiêu. Theo khung của Jones, kiểm soát bản thân lại liên quan tới 2 trong số 3 phạm trù – điều tiết có ý thức liên quan đến khả năng tập trung chú ý, lên kế hoạch, giải quyết vấn đề, phối hợp hành vi, lựa chọn giữa nhiều phương án, gạt bỏ một đáp án được ưu chuộng để hỗ trợ phương án thích hợp; và các xử lý cảm xúc – khả năng nhận diện, bày tỏ và điều tiết cảm xúc cá nhân. Hai khung này có những điểm tương đồng khi nói tới kiểm soát bản thân: cả 2 đều liên hệ tới điều tiết cảm xúc và điều tiết ý thức. Trong thực tiễn thì sự khác biệt giữa các khung để đo lường và can thiệp nhằm phát triển một số khả năng như khả năng kiểm soát bản thân có thể dẫn tới những khác biệt ở mức độ nào? Và việc dùng các khung khác nhau cho việc nghiên cứu và đánh giá gây ra một số chứng cứ trái ngược nhau ở mức độ nào?

Biện luận

Số báo đầu tiên này tập trung vào vai trò trường học và những môi trường được tổ chức tương tự (những chương trình sau giờ học tại trường) trong việc hỗ trợ phát triển kĩ năng SEL. Chúng tôi lựa chọn tập trung vào yếu tố này này vì một số lý do. Đầu tiên, mặc dù các yếu tố như gia đình và cộng đồng là một phần quan trọng trong phát triển kĩ năng SEL, chúng tôi muốn hiểu cách mà trường học và các tổ chức khác có thể hỗ trợ kĩ năng SEL. Điều này quan trọng bởi nghiên cứu cho thấy rằng kĩ năng SEL mang tính rèn luyện, nghĩa rằng chúng có thể được học và dạy. Các chương trình SEL ở trường có thể được thiết kế để thay đổi kĩ năng và các khả năng SEL trong bất kì ba cách nào sau đây: dạy học sinh các kĩ năng SEL trực tiếp qua một chương trình học cụ thể; thay đổi môi trường nhà trường ( hay thường được nói tới như bầu không khí của lớp và trường học) qua hoạt động của giáo viên và cách tương tác với học sinh; hay qua việc thay đổi luật lệ và kì vọng tại trường học; hay qua việc thay đổi tư duy học sinh- đó là nhận thức về bản thân, người khác và môi trường mà học sinh trải nghiệm. Thứ hai, sự quan tâm về SEL đã tăng lên nhanh chóng và chúng tôi cũng thấy được nhu cầu cần nắm rõ các vấn đề quan trọng để chúng tôi có thể phát triển theo cách thức được tổ chức và có thể làm rõ những khái niệm khác biệt hay kết quả nghiên cứu trái ngược có ý nghĩa ra sao giữa nghiên cứu và thực tiễn. Thứ ba, mặc dù SEL và ứng dụng sư phạm của nó được quan tâm nhiều hơn, SEL vẫn còn bị cô lập với những chính sách trường học quan trọng như rèn luyện kỉ luật, đánh giá với mục đích can thiệp và giải trình trách nhiệm cũng như phát triển chuyên môn cho giáo viên.

Bài báo đầu tiên trình bày một khung mẫu cho việc cân nhắc vai trò của trường học và các bối cảnh tương tự trong việc hỗ trợ phát triển kĩ năng SEL. Mark Greenberg, Celene Domitrivoich, Roger Weissberg và Joseph Durlak lập luận rằng đẩy mạnh SEL trong trường học là thiết yếu bởi tiềm năng hỗ trợ các mục tiêu sức khỏe cộng đồng của nó. Họ lý luận rằng SEL có thể hỗ trợ cách giáo dục sức khoẻ cộng đồng (đó là vừa phòng ngừa những vấn đề và tăng các kết quả tích cực) bởi 3 lý do. Đầu tiên, trường học là môi trường thích hợp để can thiệp nhằm đảm bảo một dân số khoẻ mạnh do phần lớn học sinh dành nhiều thời gian của họ ở đây. Thứ hai, những chương trình SEL ở trường có thể cải thiện kĩ năng SEL và kết quả học tập, đồng thời làm giảm nguy cơ học sinh mắc phải những vấn đề về cảm xúc hay hành vi trong tương lai. Thứ ba, các chương trình SEL ở tất cả trường học dành cho tất cả học sinh (các biện pháp can thiệp rộng) có thể gây ra ảnh hưởng lớn lên sức khỏe cộng đồng bởi “nghịch lý ngăn ngừa”, mà trong đó sức khỏe cộng đồng đạt được hiệu quả nhất trong thời gian dài qua việc can thiệp rộng thay vì can thiệp có chọn lọc với các cá nhân có nhu cầu cần hỗ trợ. Lý do là đa số những hệ quả không mong muốn phát sinh từ đại bộ phận dân cư được xem là ít có nguy cơ.

Hiện trạng khoa học

Greenberg, Domitrivoich, Weissberg và Durlak đã mở đường cho những bài báo tiếp theo, mà trong đó bàn bạc đến việc liệu dạy SEL có khả thi hay không và các trường (và các chương trình ngoài nhà trường) có thể làm gì để hỗ trợ và nuôi dưỡng SEL trong học sinh. Bốn bài báo sẽ cùng nhau miêu tả hiện trạng khoa học của can thiệp SEL qua nhiều cấp học – như mẫu giáo (Megan McClelland, Shauna Tominey, Sara Schmitt và Robert Duncan), tiểu học Stephanie Jones, Sophie Barnes, Rebecca Bailey và Emily Doolittle), cấp 2 và cấp 3 (David Yeager), và các chương trình ngoài giờ lên lớp (Noelle Hurd và Nancy Deutsch). Với vai trò là trọng tâm của số báo đầu tiên của Tạp chí Tương lai trẻ em này, loạt bài báo đặt ra những câu hỏi sau: Các kĩ năng SEL được định nghĩa ra sao và thường được phát triển trong nhà trường cũng như những môi trường liên quan như thế nào? Ta đã học được điều gì từ việc can thiệp và ngăn ngừa về vai trò của chúng trong học tập? Những chiến thuật và việc giảng dạy SEL nào là hữu hiệu? Ảnh hưởng của các chương trình và phương pháp SEL có thay đổi theo hoàn cảnh xã hội, chủng tộc và giới tính của trẻ hay không? Những thử thách lớn nhất của việc tích hợp trọng tâm SEL vào việc giảng dạy là gì?

Những bài báo sau đây miêu tả các loại nghiên cứu khác nhau nhưng tập trung chủ yếu vào những nghiên cứu cho thấy chứng cứ thuyết phục nhất rằng một chương trình SEL nhất định – thay vì các yếu tố khó xác định hay kiểm soát khác – đem tới kết quả cụ thể ở học sinh.

Mỗi bài báo mới nhất sẽ xem xét việc nghiên cứu cho ta biết gì về những phương pháp tốt nhất để hỗ trợ phát triển kĩ năng SEL trong nhiều giai đoạn phát triển (thiếu nhi, thiếu niên, thanh niên) và trong nhiều hoàn cảnh khác nhau (trong trường và ngoài trường). Thoạt nhìn thì các chứng cứ mà các nghiên cứu này bàn luận có vẻ rời rạc. Nhưng ba chủ đề chính kết nối chúng lại với nhau là: sự phát triển của trẻ, sự tương thích, và vai trò của người lớn.

Giai đoạn phát triển

Các biện pháp can thiệp SEL có vẻ hiệu quả nhất khi nội dung chương trình và phương pháp áp dụng phù hợp với giai đoạn phát triển. Thoạt nhìn nó có vẻ giản đơn (và khá là rõ ràng), nhưng đằng sau nó có ba nguyên lý quan trọng.  Đầu tiên, thay đổi não bộ và cơ thể quyết định kĩ năng SEL nào quan trọng nhất tại một giai đoạn phát triển cụ thể và khi nào nên đạt được sự thành thạo. Ta hãy suy xét ví dụ về kĩ năng và năng lực cảm xúc. Từ tuổi ấu thơ cho đến thiếu niên và vị thành niên, ta thấy được một số thay đổi kéo dài từ khả năng nhận diện và gọi tên các trạng thái cảm xúc khác nhau (như một gương mặt giận dữ ra sao, và giận dữ có khác biệt hay gần giống với nỗi buồn) cho đến khi hiểu rằng mỗi cá nhân có thể có phản ứng cảm xúc khác nhau với một tình huống khách quan bởi kinh nghiệm bản thân và sự ưa thích của họ (Tôi thấy giận dữ vì X xảy ra nhưng bạn thân của tui lại thấy buồn bã). Nói cách khác, vốn kĩ năng của người ta mở rộng dần qua thời gian, và một số kĩ năng sơ khai tạo nền tảng cho những kĩ năng sau – ta cần phải hiểu cảm xúc là gì và trông chúng như thế nào khi trải qua trước khi bắt đầu hiểu rằng các sự kiện không tạo nên cảm xúc tương tự nhau ở mọi người. Thứ hai, trẻ em trải nghiệm môi trường rộng và đa dạng hơn khi chúng lớn lên, và môi trường ngoài gia đình ngày càng tạo ra ảnh hưởng lớn hơn. Trong những năm trước tuổi đi học, trẻ em dành phần lớn thời gian tại nhà với cha mẹ và anh chị hay ở trường với giáo viên và bạn bè. Cho đến tuổi thiếu niên, gia đình dần trở nên kém quan trọng khi trẻ em gặp gỡ nhiều giáo viên và bạn cùng lớp hơn và dành nhiều thời gian trong những môi trường khác, chẳng hạn như đội thể thao, các câu lạc bộ hay nhà của bạn bè. Đến tuổi thành niên, quan hệ bạn bè càng trở nên rộng hơn. Thanh niên học ở những trường lớn hơn với nhiều giáo viên cũng như nhiều nhóm bạn bè, họ còn đôi khi làm việc bán thời gian hay tham gia vào các hoạt động lớn rộng hơn nữa. Thứ ba, phương pháp can thiệp cần phải phù hợp với giai đoạn phát triển của trẻ. Ở trước tuổi đi học, những chương trình với hoạt động chơi chủ đạo có vẻ hiệu quả nhất (hoặc ít nhất là hứa hẹn nhất). Ở giữa tuổi niên thiếu, dạy học đạo đức với các hoạt động trong lớp kèm theo nhằm bồi bổ luyện tập kĩ năng SEL có vẻ là phương án tốt nhất. Ở tuổi vị thành niên, biện pháp can thiệp phải xét đến quan điểm cá nhân của thanh niên và nhu cầu tự lập cũng như được tôn trọng khi chúng dần chuyển mình thành người lớn.

Sự phù hợp giữa mục tiêu và kết quả

Với bất kì giai đoạn nào dữ kiện nghiên cứu đều có vẻ kém đồng nhất hơn so với lúc nhìn nhận ban đầu. Tất cả 4 bài báo đều cho thấy rằng rõ ràng các phát hiện trái ngược nhau đều có thể là kết quả từ sự kém đồng nhất giữa mục tiêu của can thiệp SEL và kết quả được giám định ở học sinh. Ví dụ, nhiều biện pháp can thiệp SEL được thiết kế nhằm dạy những kĩ năng xã hội và cảm xúc rất cụ thể, nhưng chúng lại đo lường những kết quả rộng hơn nhiều, như độ chuyên cần hay thành tích học tập – hoặc là chúng đánh giá nhiều kĩ năng SEL dù chương trình chỉ trực tiếp nhắm tới một số ít trong đó.

Vai trò quan trọng của người lớn

Không cần biết khi nào một chương trình SEL được áp dụng trong cho trẻ thì những người trưởng thành mang nhiệm vụ truyền tải chương trình (hoặc đơn thuần là giới thiệu trong môi trường) cũng có vai trò quan trọng với sự thành bại của chương trình đó. Trong những năm đầu thời thơ ấu của trẻ, giáo viên cần được phát triển chuyên môn để hỗ trợ khả năng thực hiện các chương trình SEL của họ. Đến giữa giai đoạn ấu thơ, tất cả người lớn tham gia chương trình cần phát triển chuyên môn và hỗ trợ phát triển các mảng khác, bởi can thiệp SEL tại độ tuổi này có thể nhắm đến không chỉ ở trong lớp học mà còn cả toàn trường. Với học sinh ở độ tuổi vị thành niên, các chương trình SEL có thể hiệu quả hơn nếu được trình bày bởi người trưởng thành với khả năng thông hiểu và tôn trọng dựa trên quan điểm về độ tuổi thanh thiếu niên và nhu cầu độc lập của chúng thay vì cố gắng kiểm soát. Với các chương trình ngoài nhà trường, việc hỗ trợ của người lớn với vai trò cố vấn là rất quan trọng. Và cuối cùng nhưng cũng không kém quan trọng, nếu người lớn thiếu những kĩ năng SEL hoặc đang gặp phải căng thẳng hoặc vấn đề về thể chất, tinh thần kém thì khả năng hỗ trợ SEL cho học sinh sẽ bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng.

Chính sách có thể làm được điều gì?

Ba bài báo còn lại bàn luận tới những câu hỏi quan trọng về chính sách. Nhìn chung, chúng mang lại một cái nhìn toàn cảnh về tương quan của môi trường chính sách với SEL, cũng như quan điểm sâu sát hơn từ ba lĩnh vực: phát triển chuyên môn và sức khỏe cho giáo viên, những tiêu chuẩn đánh giá và học tập, các chính sách và thực hiện nội quy nhà trường. Những bài báo này đặt ra những câu hỏi sau đây: Dựa trên bằng chứng khoa học hiện tại, chúng ta sẵn sàng hành động với nội dung gì và nên sử dụng chính sách nào? Giáo viên cần được hỗ trợ những gì để khuyến khích những kĩ năng SEL có lợi trong lớp học? Những thử thách, cơ hội, và hệ quả của đánh giá SEL là gì? Những tiêu chuẩn SEL nên được sử dụng thế nào trong trường học? Việc phát triển kĩ năng SEL có liên hệ ra sao với nội quy nhà trường và các trường hợp kỉ luật riêng mà trong đó trẻ bị đuổi học?

Trong bài báo về chính sách đầu tiên, Anne Gregory và Edward Fergus mô tả thực trạng của chính sách kỷ luật và thực thi kỉ luật trong nhà trường, những khác biệt giới tính và sắc tộc được ghi nhận trong cách học sinh được rèn luyện và các biện pháp mà can thiệp SEL có thể làm để giảm nhẹ những cách biệt này. Họ chú ý tới nỗ lực từ địa phương nhằm làm giảm cách biệt kỉ luật được tích hợp ra sao vào thực hành SEL, và qua đó tạo điều kiện cho những biện pháp phù hợp với lứa tuổi học sinh hơn và đồng thời giảm đi áp lực phải đình chỉ hay cho học sinh nghỉ học. Họ cũng cho thấy bình đẳng giới tính và sắc tộc trong kỉ luật đòi hỏi việc phải mở rộng khung SEL ra sao nhằm cân nhắc vai trò của người trưởng thành như giáo viên và các cấp quản lý trường trong việc đẩy mạnh SEL ở học sinh. Có lẽ quan trọng nhất là việc họ nêu bật yêu cầu cân nhắc vai trò của văn hóa và quan niệm xã hội về quyền lực cũng như điều kiện kinh tế.

Bởi vì lý thuyết và thực hành của SEL có xu hướng đặt nặng vai trò của cá nhân hơn môi trường- và hệ quả là đặt gánh nặng SEL lên học sinh nên kế đến chúng ta sẽ cân nhắc vai trò của giáo viên trong các can thiệp SEL trong nhà trường. Kimberly Schonert-Reichl giới thiệu những chứng cứ về cách làm thế nào mà những kĩ năng SEL của chính giáo viên và thể trạng chung của họ ảnh hưởng tới SEL của học sinh. Nhà nghiên cứu này còn cho thấy rằng phần lớn các chương trình đào tạo giáo viên bỏ qua yếu tố giảng dạy này, làm cho giáo viên phần nào thiếu chuẩn bị để có thể hỗ trợ SEL trong giảng dạy và các hoạt động trong lớp học chung.

Trong bài báo cuối cùng về chính sách, Clark Mckown xem xét cách mà kĩ năng SEL được đo lường và ý nghĩa của việc đo lường này nhằm xem xét trách nhiệm và tiêu chuẩn của trường học. Ông nhận thấy sự không tương thích giữa nhu cầu đánh giá SEL cho việc giải trình trách nhiệm và sự thiếu hợp lý trong hệ thống đánh giá hiện hành. McKown lập luận rằng nếu muốn SEL trong nhà trường đạt được mục tiêu, chúng ta cần hệ thống phát triển bài kiểm tra tiên tiến hơn để đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe về khoa học và đạo đức. Các hình thức đánh giá SEL nên có tính khả dụng và khả thi ở trong nhà trường, tập trung vào điểm mạnh thay vì thiếu sót, không can dự vào quá trình học tập và có khả năng báo cáo nhanh và linh hoạt kết quả để nhà trường có thể hành động. Cùng với các quy định về can thiệp, các hình thức đánh giá phải phù hợp với giai đoạn phát triển và phương pháp của chúng phải tương đồng với những khía cạnh được đánh giá.

Điều gì tiếp theo cho SEL trong nhà trường?

Các bài báo trong số này làm sáng tỏ một số thử thách lớn khi chúng ta cố gắng tạo nền tảng và dùng các biện pháp SEL để hỗ trợ những kết quả tốt nhất có thể cho cá nhân học sinh và mọi người nói chung. Nếu chúng ta không đồng thuận về cách những yếu tố SEL cơ bản được định nghĩa, sử dụng trong nghiên cứu và truyền tải vào thực tiễn giáo dục (như những tiêu chuẩn với các thực tế và chiến lược liên quan) thì vấn đề về thuật ngữ và việc nó kết nối các chứng cứ, các phương pháp và hoạt động can thiệp, cũng như hệ thống đánh giá và kiểm tra trách nhiệm lại với nhau vẫn còn một vấn đề. Dù vậy, các chứng cứ cung cấp ở đây tạo nên cơ sở quan trọng để phát triển SEL.

Nguồn: The Future of children, Social and Emotional Learning, Vol 27 No. 1 2017, Princeton and Brooking.

https://futureofchildren.princeton.edu/news/social-and-emotional-learning